ĐẠI CƯƠNG VỀ QUÁ TRÌNH SINH MẪU TIỂU CẦU VÀ TIỂU CẦU

Tin Tức Sức Khỏe

Tiểu cẩu là một trong những thành phần có vai trò quan trọng bậc nhất cùa quá trình cẩm máu và đông máu. Tuỷ xương là nơi sinh ra tiểu cẩu.

– Tiểu cầu là các mảnh nhỏ không nhân, tách ra từ các mẫu tiểu cầu. Quá trình sinh mẫu tiểu cầu được tóm tất như sau: 

-Tế bào gốc van năng, dưới tác động của các yếu tố kícểh thích sinh máu, sẽ lần lưọt chuyên thành các tế bào gốc định hướng sinh tuý hỗn hợp (gồm cả dòng hồng cầu,bạch cầu hạt và đại thực bào), và sau đó là tế bào tiền thân định hướng sinh mẫu tiếu cầu (bao gồm: loại sớm là BFU-Mk; và loại muộn là CFU-Mk).

– Từ các tế bào này, mẫu tiểu cầu tiếp tục biệt hoá đế tạo thành các tế bào đáu dòng có thế nhận biết được (recorgnizable precursors) dưới kính hiến vi quang học, theo phương pháp nhuộm Giemsa thông thường.
– Sinh mầu tiêu cầu được điều hoà bằng một cơ chế hết sức phức tạp, mà cho đến nay vẫn còn một sô điều chưa biết rõ. Trong đó có sự tham gia điều hoà của hầu hết các chất kích thích sinh máu, như: Các Interleukin (IL|, IL,, IL6), yếu tố ức chế lơxêmi (LIF), các yếu tố kích thích tạo cụm (CSF), thrombopoietin(TPO),erythropoietin(EPO), thrombospondin (TSP)…

– Ở những lứa tuổi đầu tiên, các tế bào đầu dòng chỉ mang những markers chung cúa tế bào dòng tuỷ (như HLA-II, HLA-I); nhưng trong quá trình trưởng thành của mình, mẫu tiểu cẩu dần đã tổng hợp được những thành phần đặc trưng cho mẫu tiểu cầu và tiểu cầu; ví dụ:

+ Ở lứa tuổi từ tế bào tiền thân định hướng sinh mẫu tiểu cầu trở đi các tế bào này đã tổng hợp được GPIIb/IIIa- đó là hai loại glycoprotein rất quan trọng trong việc dính các tiểu cầu với collagen hoặc với fibrinogen.
+ Từ tế bào nguyên mẫu tiểu cầu trở đi thì chúng đã có thể tổng hợp được một loạt các yếu tổ quan trọng khác, như: GPIb, yếu tố vonWillebrand (v-WF), thrombospondin (TSP), yếu tố 4 tiểu cầu (PF-4), thậm chí cả fibrinogen (FBG)

– Các tế bào mãu tiểu cầu chứ yếu gặp trong tuý xương mà có thể nhận biết được bằng kỹ thuật nhuộm Giemsa và soi dưới kính hiển vi quang học là:

+ Nguyên mẫu tiểu cầu (megakaryoblast): Đây là tế bào duy nhất của các mẫu tiếu C À U có khả năng phân bào. Kích thước 20-40 |lm; nhân to mịn thường có 1-2 nhân. Nguyên sinh chất ưa base, có một quầng mò’ nhạt giữa nhân và nguyên sinh chất.
+ Mầu tiểu cấu ưa base (promegakaryocyte): Đó là những tế bào có kích thước to hơn nguyên mẫu tiểu cầu (>40 |im) . Nhân nhỏ hình thận hoặc hình đa giác có eo thắt, có thể còn bóng hạt nhân. Nguyên sinh chất vẫn còn lất ưa base và không có hạt.
+ Mẫu tiểu cầu có hạt chưa sinh tiểu cầu (megakaryocyte without thrombocyte) Kích thước to (50-8ơ|im) nhân nằm lệch về một phía, lưới màu thô và nhiều múi; Nguyên sinh chất ưa base nhẹ, chứa lất nhiều hạt nhỏ bất màu ưa azua; các hạt này lúc đầu xuất hiện ớ quanh nhân sau đó lan ra khắp nguyên sinh chất. Màng tế bào còn nguyên vẹn.

+ Mẩu tiểu cầu có hạt đang sinh tiểu cầu (metamegakaryocyte): Kích thước > 80|im ; nhân thô đậm trong nguyên sinh chất có rất nhiều hạt (đó là các tiểu cầu); màng nguyên sinh chất bị phá’vỡ; có thể thấy nhiéu đám tiểu cầu bên cạnh.

+ Nhân trơ của mẫu tiểu cầu: Là một khối màu đậm, thỏ, to, đôi khi có thoái hoá hốc ở trong nhân; Không có viền nguyên sinh chất.

+ Như vậy về mặt kích thước các tế bào này to dần từ nguyên mẫu tiểu cầu đến mẫu tiếu cầu có hạt sinh tiếu cầu.
Mẫu tiểu cẩu là những tế bào đa bội, nhân của mẫu tiểu cầu không phải là 2n mà có thể là có chứa bộ nhiễm sắc thể 4n,8n,16n và 32n, thậm chí 64n …Thời gian trưởng thành từ nguyên mẫu tiểu cầu đến khi sinh ra các tiểu cầu là khoảng 10 ngày. Mỗi mẫu tiểu cầu có thể sinh sản ra 3-8 X 108 tiểu cầu .
+ Trong tuý xương mẫu tiểu cầu chiếm tỷ lệ không nhiểu lắm, bởi vậy thường không làm công thức chung với tế bào của các dòng khác. Ngoại lệ trong một số bệnh (như xuất huyết do giảm tiểu cầu …) thì có thế tiến hành làm công thức mẫu tiếu cầu .

– Công thức mầu tiểu cầu bình thường là :

+Nguyên mẫu tiếu cầu : 5-10%
+ Mẫu tiểu cầu ưa base: 10-25%
+ Mẫu tiểu cầu có hạt chưa sinh tiểu cầu: khoáng 80%
+ Mầu tiếu cầu có hạt đang sinh tiểu cầu: 15-20%
– Ở tình trạng bình thường rất hiếm khi thấy có mầu tiểu cầu ra máu ngoại vi. Tuy nhiên trong một số bênh lý (như các bệnh tăng tiêu cầu tiên phát, xơ tuy vô căn, lơxêmi kinh dòng hạt…) thì có thể thấy mẫu tiếu cẩu ra máu ngoại vi.

Không có phản hồi

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin Tức Sức Khỏe
Hướng dẫn xử trí ADR

Các ADR nhẹ có thể tự khỏi. Theo dõi các tác dụng không mong muốn và điều trị triệu chứng. Thay thuốc khác nếu các tác dụng không mong muốn ở mức độ nặng. Ngừng thuốc nếu hoạt độ transaminase tăng nhanh, gan to tiến triển. – Nếu có dấu …

Tin Tức Sức Khỏe
Liều lượng và cách dùng thuốc lamivudin

Phải phối hợp lamivudin với các thuốc kháng retrovirus khác theo các phác đồ trong hướng dẫn quản lý, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS năm 2015 của Bộ Y Tế. * Điều trị HIV: – Người lớn và trẻ em có cân nặng > 35 kg: uống 150mg 2 …

Những điều cần lưu ý đối với thuốc lamivudin
Tin Tức Sức Khỏe
Những điều cần lưu ý đối với thuốc lamivudin

– Nhiễm toan chuyển hóa lactic: Nhiễm toan chuyển hóa lactic và chứng gan to mức độ nặng, thoái hóa mỡ gan (đôi khi gây tử vong) đã được báo cáo ở bệnh nhân sử dụng thuốc NRTI, bao gồm cả lamivudin. – Thận trọng khi sử dụng ở bệnh …