TÌM HIỂU VỀ TETRACYCLINE

Tin Tức Sức Khỏe

Các Tetracycline có cấu trúc gồm 4 vòng có hệ nối đôi liên hợp. Các nhớm thế trên hệ vòng này sẽ quy định đặc tính dược động học và phổ kháng khuẩn của từng thuốc trong nhóm.

Cơ chế tác dụng:


Với các vi khuẩn còn nhạy cảm, Tetracycline xâm nhâp vào tế bào thông qua cơ chế khuếch tán thụ động hoặc qua cơ chế vận chuyển chủ động nhờ các kênh protein nằm ở mặt trong màng tế bào. Thuốc tích lũy trong tế bào, gắn thuận nghịch (bind reversibly) vào các tiểu đơn vị 30S trên ribosome vi khuẩn. Điều này ngăn cản quá trình gắn của t-ARN vào phức hợp m-ARN – ribosome, quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn bị ức chế.

Phổ kháng khuẩn:

Họ kháng sinh Tetracycline là các kháng sinh kìm khuẩn, tác dụng lên rất nhiều chủng vi khuẩn khác nhau, bao gồm các vi khuẩn Gram (+), Gram (-), động vật nguyên sinh, xoắn khuẩn, mycobacteria và các loài không điển hình (atypical species). Họ kháng sinh này thường dùng điều trị mụn trúng cá hoặc nhiễm Chlamydia (Doxycycline)

Sự đề kháng kháng sinh:

Hầu hết các trường hợp kháng Tetracycline tự nhiên là do hệ thống bơm đẩy thuốc khỏi tế bào, do đó ngăn tích lũy kháng sinh trong tế bào vi khuẩn. Các cơ chế kháng Tetracycline khác của vi khuẩn bao gồm: Tiết enzyme bất hoạt kháng sinh và tổng hợp ra các protein ngăn không cho kháng sinhgắn vào ribosome. Vi khuẩn kháng một thuốc  không có nghĩa là sẽ kháng tất cả kháng sinh trong họ.

Dược động học:

1.Hấp thu: Tetracyline hấp thu gần như hoàn toàn sau khi uống (Hình 4). Sử dụng các chế phẩm từ sữa hoặc các chế phẩm chứa cation hóa trị 2 và 3 (VD: Nhôm và magnesi trong antacid, các viên bổ sung sắt) làm giảm sự hấp thu thuốc, đặc biệt là Tetracycline, do tạo thành phức chelat khó hấp thu. Hai thuốc Doxycycline và Mynocycline dùng được cả đường uống và tĩnh mạch.

Phân bố:

Các Tetracycline phân bố tốt vào mật, gan, thận, dịch nướu (lợi) và da. Thêm vào đó, nhóm kháng sinh này liên kết mạnh với các mô giàu calci (xương và răng) hoặc các khối u có hàm lượng calci cao. Chỉ có Minocycline và Doxycyclien đạt được nồng độ điều trị trong dịch não tủy. Minocycline đạt nồng độ cao trong nước bọt và nước mắt, do đó được sử dụng dự phòng nhiễm não mô cầu (meningococcal) ở các đối tượng mang mầm bệnh. Tất cả kháng sinh trong nhóm đều qua được hàng rào
nhau thai và tích lũy trong xương và răng của thai nhi.

Thải trừ:

Tetracycline và Doxycycline không chuyển hóa qua gan. Tetracycline thải trừ chủ yếu ở dạng không chuyển hóa qua nước tiểu, trong khi Minocycline bị chuyển hóa tại gan và ít thải trừ qua thận hơn. Trên những bệnh nhân bị tổn thương thận, Doxycycline được ưu tiên hơn do thuốc thải trừ chủ yếu qua mật vào trong phân.

Không có phản hồi

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin Tức Sức Khỏe
Hướng dẫn xử trí ADR

Các ADR nhẹ có thể tự khỏi. Bên cạnh đó chúng ta cần theo dõi thật kĩ các tác dụng không mong muốn và điều trị triệu chứng. Thay thuốc khác nếu các tác dụng không mong muốn ở mức độ nặng. Ngừng thuốc nếu hoạt độ transaminase tăng nhanh, …

Tin Tức Sức Khỏe
Liều lượng và cách dùng thuốc lamivudin

Phải phối hợp lamivudin với các thuốc kháng retrovirus khác theo các phác đồ trong hướng dẫn quản lý, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS năm 2015 của Bộ Y Tế. * Điều trị HIV: – Người lớn và trẻ em có cân nặng > 35 kg: uống 150mg 2 …

Những điều cần lưu ý đối với thuốc lamivudin
Tin Tức Sức Khỏe
Những điều cần lưu ý đối với thuốc lamivudin

– Nhiễm toan chuyển hóa lactic: Nhiễm toan chuyển hóa lactic và chứng gan to mức độ nặng, thoái hóa mỡ gan (đôi khi gây tử vong) đã được báo cáo ở bệnh nhân sử dụng thuốc NRTI, bao gồm cả lamivudin. – Thận trọng khi sử dụng ở bệnh …